Chuyển bộ gõ
Số lượt truy cập
2916491
Dành cho quảng cáo
Đảng Cộng Sản Việt Nam
Bộ Khoa Học và Công Nghệ
  Tiếng Việt (Việt Nam)   English (United States)
Vấn đề đào tạo chuyên gia trình độ cao về quản lý công nghệ
Cập nhật ngày: 18/01/2008

Nghị quyết TƯ6 (Khoá IX) và nhiều văn kiện khác của Đảng và Nhà nước đã nhiều lần nhấn mạnh tính chất cấp thiết của đổi mới quản lý khoa học và công nghệ ở nước ta để khoa học và công nghệ có thể trở thành nền tảng của CNH-HĐH. Các chương trình hành động của Chính phủ và các bộ, trong đó Bộ KHCN nêu nhiều hạng mục thực hiện tư tưởng chỉ đạo này. Tuy nhiên một trong những khâu yếu nhất khiến hiệu quả thực hiện chưa cao đó là việc đào tạo cán bộ quản lý công nghệ còn bất cập. Bài viết này xin nêu một số vấn đề xung quanh việc đào tạo các chuyên gia cao cấp tham mưu tư vấn cho Đảng và Nhà nước trong việc xây dựng cũng như chỉ đạo thực hiện đường lối chính sách KHCN ở các cấp từ trung ương tới cơ sở.

1)      Vai trò, vị trí của vấn đề

Trong công cuộc CNH-HĐH hiện nay và nhiều năm tới, hội nhập kinh tế quốc tế dẫn tới cạnh tranh trên thương trường là tất yếu không thể đảo ngược. Doanh nghiệp nước ta, hay nói rộng hơn là nền kinh tế nước ta muốn tồn tại và phát triển phải chăm lo từ gốc, tức phải nâng cao năng lực cạnh tranh của mình. Bên cạnh các yếu tố quan trọng hiển nhiên như lợi thế so sánh, tài nguyên, lao động rẻ, quản lý giỏi, quyết định nhất là các chuyên gia quản lý và tư vấn về quản lý công nghệ. Nhiều ví dụ thực tế cho thấy những trang thiết bị, máy móc công nghệ hiện đại và đắt tiền tự nó không làm tăng sức cạnh tranh của hàng hoá và dịch vụ, nếu không được quản lý bởi những nhà quản lý công nghệ vừa có kiến thức lý luận, vừa có kỹ năng và kinh nghiệm thực tế. Vậy họ là ai ?

Đó là những người làm quản lý giỏi, vừa thông tường kiến thức xã hội, nhân văn, biết kinh doanh, nắm thời thế, hiểu thương trường. Đó cũng là những người am tường kỹ thuật, thức thời tỉnh táo trong cơn xoáy lốc của cách mạng công nghệ đang diễn ra từng ngày. Dễ dàng nhận thấy, những con người như thế thật hiếm và quý biết chừng nào. Họ hiếm khi tự nhiên xuất hiện, mà thường trải qua những thử thách của hoàn cảnh đặc biệt và phải sẵn có những tư chất đặc biệt rồi từ thực tế quản lý công nghệ đó mà trưởng thành. Không phải tự nhiên mà có, cũng giống hoa thơm trái ngọt, muốn gặt hái phải gieo trồng. Đào tạo đúng sẽ cho những mẫu người chúng ta kỳ vọng. Nếu không thì dù có hô hào, nhân tài ít khi xuất hiện.

Đảng và Nhà nước ta thường xuyên chú ý đào tạo và bồi dưỡng nhân tài, nhất là các loại nhân tài trên mặt trận khoa học và công nghệ. Những năm gần đây, nhiều ngàn tỷ đồng được đầu tư cho đào tạo cán bộ KHCN nói chung, nhưng với loại chuyên gia quản lý khoa học và công nghệ thì tình hình đào tạo trong nước còn nhiều chuyện phải bàn. Trong sự nghiệp giải phóng Miền Nam   thống nhất đất nước, Đảng và Nhà nước ta có một thế hệ những nhà chỉ huy quân sự thật lỗi lạc, tài ba. Trên mặt trận khoa học và công nghệ, những nhân tài lãnh đạo quản lý như vậy còn chưa nhiều. Có lẽ đây cũng chính là một trong những nguyên nhân  vì  sao khoa học và công nghệ còn chậm đi vào cuộc sống, hàng hoá và dịch vụ của ta kém sức cạnh tranh. Trong những cái nút phải gỡ, nên chăng cần chú ý vấn đề này.

2)      Tình  hình ở một số nước trên thế giới.

Mặc dù là lĩnh vực tương đối mới, nhưng trên thế giới việc đào tạo chuyên gia quản lý khoa học và công nghệ hoặc công nghệ có lịch sử vào khoảng thập niên 50 chủ yếu ở các nước Bắc Mỹ và Châu Âu, Liên-xô cũ và Đông Âu. Liên-xô trước đây có nhiều trung tâm nghiên cứu và đào tạo khá mạnh như Mat-xcơ-va; Lê-nin-grat, Ki-ép, Novosimbirk, Minsk trong lĩnh vực quản lý KHCN xung quanh một lĩnh vực chuyên ngành là Khoa học luận. Một số cán bộ nước ta đã được đào tạo cơ bản tại nước này. Theo các nhà nghiên cứu, chương trình đầu tiên đào tạo có hệ thống về quản lý công nghệ được biết đến từ năm 1949.

Trước hết, nói về ngành học. Trong hệ thống đào tạo nhiều nước phương Tây ngành học này thường có tên chung là "Technology Management", tức là quản lý công nghệ. Công nghệ ở đây được hiểu theo nghĩa rộng, là tri thức có hệ thống dùng trong việc sản xuất hàng hoá hay tiến hành một dịch vụ. Công nghệ hiện thân ra ngoài là một tổ hợp nhiều yêú tố cấu thành trong đó có con người có tay nghề với tư cách là  chủ thể nhưng cũng đồng thời là yếu tố chủ động nhất tích cực nhất trong công nghệ, các máy móc công nghệ do con người tạo ra để thực hiện ý tưởng công nghệ, thông tin hướng dẫn vận hành, tổ chức lao động xung quanh hệ thống máy móc đó, hệ thống cung tiêu đi kèm, … Vì công nghệ là tri thức có hệ thống nên sự ra đời, phổ cập, loại bỏ, thay thế mới diễn ra dưới dạng chu kỳ  sống hay vòng đời của công nghệ. Quản lý công nghệ, do phải bao quát tất cả các giai đoạn của vòng đời công nghệ cho nên có phạm vi sâu rộng, từ nghiên cứu đổi mới công nghệ đến khai thác vận hành kinh tế trong sản xuất kinh doanh. Công nghệ lại có yếu tố con người, tổ chức cho nên đối với quản lý công nghệ người ta chú ý cả những khía cạnh xã hội, nhân văn.

Quản lý công nghệ là một ngành học mới hình thành do thực tiễn công cuộc phát triển đòi hỏi, nổi lên ở giáp ranh giữa hai nhóm các khoa học với một bên là khoa học xã hội-nhân văn như quản lý, kinh tế học, chính trị học, xã hội học, và  bên kia là các hệ thống kỹ thuật với hạt nhân là khoa học kỹ thuật (engineering science). Có thể nói quản lý công nghệ là con lai giữa hai dòng khoa học quản lý và  khoa học kỹ thuật. Điều này được phản ánh qua nội dung học thuật của các chương trình đào tạo về quản lý công nghệ. Song cũng dễ nhận thấy tính liên ngành ngay từ tên gọi của các chương trình đào tạo ở các nước cũng như chuyên môn của các trường. Chẳng hạn, theo một cuộc điều tra chuyên ngành về quản lý công nghệ  người ta thấy có hàng trăm chương trình đào tạo khác nhau trên thế giới. Trong số 166 chương trình đào tạo được điều tra trực tiếp bằng phiếu hỏi năm 1994 thì có 105 của Mỹ, Australia 9, Canada 9 còn lại của các nước khác. Trong số đó có 77 chương trình (chiếm 46,3%) mang tên quản lý kỹ thuật (engineering management), 46 chương trình (27,7%) mang tên quản lý công nghệ (technology management). Phần đông các chương trình này (92 chương trình) nằm trong các đại học công nghệ, 33 trong các trường hỗn hợp giữa công nghệ và kinh doanh, 29 trường chuyên về kinh doanh [1].

Một câu hỏi được đặt ra là học xong các chương trình này người học có thể làm các công việc gì ? Trong thị trường lao động các nước công nghiệp phát triển, ví dụ như nước Mỹ, tốt nghiệp loại chương trình tương tự như thế này tại Trường Đại học tổng hợp George Washington người học có thể làm các công việc sau đây: giám đốc dự án, quản đốc một dây chuyền sản xuất; phụ trách tiếp thị kinh doanh; giám đốc chương trình; quản đốc phát triển các lĩnh vực kinh doanh mới; quản đốc kỹ thuật; giám đốc kỹ thuật; giám đốc liên hiệp công ty; giám đốc nghiên cứu phát triển; giám đốc phụ trách về chiến lược; nhân viên điều hành chương trình; tổng giám đốc đơn vị kinh doanh; chuyên gia lãnh đạo về tri thức (Chief Knowledge Oficer-CKO); chuyên gia lãnh đạo về học tập (Chief  Learning Oficer-CLO); lãnh đạo về công nghệ thông tin (Chief Information Oficer -CIO); đối tác đầu tư mạo hiểm (Venture Capital Partner). Họ có thể làm việc trong các ngành sản xuất và dịch vụ thâm dụng công nghệ khác nhau từ chế tạo ô tô, sản xuất hàng tiêu dùng, đồ uống, thực phẩm, chăm sóc sức khoẻ cho đến phần mềm và phần cứng máy tính. Các tập đoàn kinh doanh lớn như Mattel, Black and Decker, AOL Time Warner, Disney đã tuyển dụng các chuyên gia tốt nghiệp chương trình này [ 4 ].

Về mặt chương trình, người ta dạy những nội dung gì ? Nhìn chung có hai nhóm các học phần lớn, một về khoa học kinh tế và quản trị kinh doanh và nhóm kia là các khoa học kỹ thuật, các hệ thống công nghệ trong công nghiệp. Chẳng hạn như Trường Công nghệ Massachusetts, một trường công nghệ hàng đầu của Mỹ, để có bằng thạc sĩ về quản lý công nghệ (năm 1991) người học phải học 19 học phần về các môn sau [ 2 ]: kinh tế học vĩ mô và kinh tế học ứng dụng vi mô; hệ thống hỗ trợ ra quyết định; kiểm toán quản lý và tài chính; kỹ thuật phân tích hệ thống; về các nhà chuyên môn trong quản lý; chu trình nghiên cứu và phát triển; quản lý marketing; khảo sát các công nghệ mới nổi lên; quản lý tài chính trong công ty; quản lý chiến lược; chiến lược công ty đối với quản lý nghiên cứu triển khai và kỹ thuật;  quan hệ giữa ngành chế tạo và công nghệ; quản lý ngành chế tạo; quản lý đổi mới công nghệ trong ngành chế tạo và các chương trình tự chọn trong số các chương trình quyền lực và đàm phán, kinh tế học chiến lược công nghệ; chu trình phát triển sản phẩm và chế tạo; chính phủ và quản lý công nghệ; quản lý công nghệ của Nhật bản; quản lý ngành công nghiệp chế tạo. Chương trình khung này thường xuyên được cập nhật và hiện nay trường này đưa ra chương trình cao học 2 năm “Công nghệ và Chính sách” đòi hỏi phải tích luỹ 108 ĐVHT và luận văn tốt nghiệp mà thực tế là trọng tâm trong suốt năm cuối của khóa học [ 5 ].

Tại các nước mới công nghiệp hoá khu vực Châu Á như Singapore , Hàn quốc cũng có các chương trình đào tạo sau đại học về quản lý công nghệ. Ví dụ tại Viện KAIST nổi tiếng của Hàn quốc từ năm 1995 cũng bắt đầu một chương trình cao học về quản trị kinh doanh công nghệ (Techno-MBA) với 54 ĐVHT bao gồm các học phần: xác suất và thống kê; kinh doanh quốc tế; quản lý doanh vụ toàn cầu; quản lý giữa các nền văn hoá; thực tiễn hội nhập quốc tế; phân tích định lượng trong quản lý; quản lý, lãnh đạo và tổ chức; kinh tế học chiến lược; marketing; quản lý chiến lược sản xuất và chuỗi cung ứng; lý thuyết e-Business; kế toán tài chính. Kết thúc khoá học, học viên có thể đi chuyên sâu vào một trong các hướng như  quản lý công nghệ và kinh doanh; Marketing; quản lý doanh vụ rủi ro; kinh doanh qua mạng (e-Business); phân tích kế toán, tài chính và kinh doanh; chiến lược và tổ chức [ 3 ].

Những chương trình khác, tuy khác nhau về cụ thể, nhưng về đại thể cũng có phần kết cấu chương trình khung gần như vậy. Một số trường còn dạy văn hoá trong quản lý, công nghệ thông tin trong quản lý, quản lý môi trường. Các chương trình đòi hỏi người học phải hiểu được xu thế phát triển của công nghệ trong các ngành công nghiệp trên thế giới, nhất là các công nghệ thân thiện môi trường cùng các kiến thức và kỹ năng quản trị kinh doanh trong công nghiệp. Về cách học chủ yếu là nghiên cứu thông qua các bài trình bày kết quả tự nghiên cứu dưới sự hướng dẫn của các nhà chuyên môn hàng đầu và viết luận văn tốt nghiệp.

Theo khuyến nghị của Trung tâm Chuyển giao công nghệ Châu Á- Thái Bình Dương trực thuộc ESCAP cho các nước đang phát triển trong khu vực thì nội dung đào tạo về quản lý công nghệ có thể gồm các bộ phận hợp thành sau đây [1] : quản lý công nghệ ở tầm chiến lược; thông tin, quan trắc, dự báo và đánh giá công nghệ; ước định giá trị, lựa chọn và nhập công nghệ; quản lý sở hữu trí tuệ; nghiên cứu phát triển và đổi mới công nghệ; quản lý công nghiệp chế tạo, tiêu chuẩn và chất lượng; quản lý công nghệ phục vụ phát triển bền vững. Những nội dung này cần phải được kết hợp một cách linh hoạt, phù hợp với điều kiện cụ thể của từng nước, từng ngành sản xuất, dịch vụ, từng doanh nghiệp trong từng giai đoạn phát triển.

3)      Hiện trạng vấn đề ở nước ta

Cán bộ quản lý công nghệ nước ta để khỏi tụt hậu với mặt bằng chung trên thế giới, phải có cách nào đó học, hoặc bằng con đường tự học, nâng cao trình độ của mình về quản lý công nghệ như các nước đã và đang làm. Chỉ như vậy các doanh nghiệp của ta mới có thể  tự tin, bình đẳng với những đối thủ trong cuộc cạnh tranh trên thương trường. Việc tổ chức các chương trình học này cho thích hợp chính là nhiệm vụ của các cơ quan có trách nhiệm đào tạo và quản lý đào tạo.

Ở nước ta việc đào tạo chuyên gia theo hướng quản lý khoa học và công nghệ cũng đã được tiến hành tại một số cơ quan đào tạo. Tuy nhiên, trong các trường đại học và các học viện, quản lý công nghệ mới chỉ được giảng dạy trong khuôn khổ các chuyên đề đơn lẻ của ngành “Kinh doanh và Quản lý” dưới mã ngành 52.34 của Danh mục Đào tạo trong hệ thống giáo dục quốc dân. Hiện nay ta cũng đã bắt đầu có chương trình lấy bằng cử nhân “Khoa học quản lý”. Đây là điều kiện thuận lợi cung cấp đầu vào chính quy cho các chương trình  SĐH về chuyên ngành quản lý khoa học và công nghệ trong những năm tới.

Trong khuôn khổ bồi dưỡng ngắn hạn (dưới một tuần) về hướng dẫn nghiệp vụ quản lý cho cán bộ, công chức, viên chức trong hệ thống cơ quan quản lý nhà nước về khoa học và công nghệ, hàng năm một số nội dung có liên hệ đến quản lý công nghệ cũng được cập nhật, nhưng chỉ là định hướng sơ bộ trong các khoá tập huấn của các đơn vị thuộc Bộ Khoa học và Công nghệ. Do mục đích, tính chất của tập huấn, hướng dẫn nghiệp vụ cơ chế chính sách, văn bản pháp quy quản lý nhà nước của ngành, rõ ràng chưa phải là nơi lý tưởng cho đào tạo một cách cơ bản, chính quy về lĩnh vực chuyên sâu này. Một định suất chi phí đào tạo, bồi dưỡng, theo quy định hiện hành của Bộ Tài chính và Bộ Nội vụ, chỉ ở mức 180 ngàn đồng cho khoá học dưới 10 ngày.

Đối với bậc sau đại học về quản lý khoa học và công nghệ, chương trình cao học có tính cách thử nghiệm đầu tiên được biết là của Viện Quản lý khoa học thuộc Uỷ ban KHKTNN, nay là Viện Chiến lược và chính sách KH&CN thuộc Bộ Khoa học và Công nghệ. Tại Quyết định số 2823/QĐ-SĐH ngày 4-1-1991 của Bộ Giáo dục và đào tạo  đã cho phép đào tạo chuyên ngành “Chính sách Khoa học và công nghệ”. Kể từ năm 2005, theo Quyết định 25/2005/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 27-1-2005 về ban hành Danh mục giáo dục đào tạo của hệ thống giáo dục quốc dân, thì chuyên ngành này thuộc mã ngành 60.34.70 - một chuyên ngành trong ngành “Kinh doanh và Quản lý”.

Đây là chương trình thuộc hệ tại chức, phối hợp với Đại học KHXHNV, mỗi khoá  khoảng 3 năm. Đầu vào của chương trình khá mở rộng nhờ có các học phần chuyển đổi cho hầu như tất cả những ai  học chuyên ngành khác ở bậc đại học. Cho đến năm 2005 tổng cộng có 9 khoá học với gần 120 học viên tại chức theo học, trong đó có 58 học viên tốt nghiệp đã được cấp bằng thạc sĩ. Chương trình nhằm đáp ứng nhu cầu học tập của một bộ phận cán bộ quản lý, chủ yếu trong các cơ quan nhà nước. Ví dụ, những học viên các khoá đầu tiên (từ khoá I đến khoá IV) chủ yếu công tác tại Bộ KH&CN 33,3% ; cán bộ quản lý củaViện KHCNVN và các viện nghiên cứu khác 37,4% ; các trường đại học 10,4%,  số còn lại thuộc các bộ, địa phương và một vài công ty.

Nội dung khung chương trình của chương trình cao học này gồm các môn tối thiểu (32 ĐVHT), các môn bổ túc kiến thức cơ bản và cơ sở (25 ĐVHT ), các bài giảng chuyên đề  (34 ĐVHT) và các seminar phục vụ cho bài giảng chuyên đề (10 ĐVHT), các hoạt đông ngoại khoá, và luận văn tốt nghiệp (20 ĐVHT). Theo tác giả Lê Văn Chương thì sau 15 năm hoạt động cho tới nay nội dung chương trình khung đã được cập nhật, bổ sung 3 lần [6].

Một chương trình cao học khác tại Đại học Khoa học xã hội và nhân văn, thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội, theo mã ngành  60.34.72  “Quản lý khoa học và công nghệ” đã được tiến hành từ năm 1999. Chương trình khung gồm 19 học phần với tổng thời lượng khoảng 60 ĐVHT. Học viên tốt nghiệp được cấp bằng Thạc sĩ Khoa học quản lý.  Cho tới nay, năm 2005, đã có trên 30 học viên bảo vệ thành công luận văn tốt nghiệp. Trường Đại học KHXHNV cũng đang phối hợp với các cơ quan và địa phương khác đẩy mạnh phổ cập chương trình này và đang được đề nghị xem xét việc đào tạo bậc cao hơn, bậc tiến sĩ về quản lý khoa học và công nghệ. Với tư cách phản biện, tác giả đã tham gia Hội đồng thẩm định chương trình khung cao học và tiến sĩ về quản lý khoa học và công nghệ do Đại học Quốc gia Hà Nội tổ chức tháng 5-2005.

Ưu điểm quan trọng nhất, và đó là cơ bản, là các chương trình  SĐH trong nước đã bám sát và đáp ứng nhu cầu học tập khá bức xúc của một bộ phận cán bộ quản lý khoa học và công nghệ có nguyện vọng nâng cao trình độ nghề nghiệp. Các  chương trình phục vụ kịp thời và tạo điều kiện tương đối rộng mở cho các đối tượng có học vấn cơ bản khác nhau (tính đại chúng) được tham gia chương trình thông qua các môn học chuyển đổi đầu vào. Định hướng lớn trong nội dung khung chương trình  đã được chú ý bổ sung, cập nhật bám sát yêu cầu thực tế. Có chú ý đến các đối tượng học là cán bộ trong khu vực sản xuất kinh doanh. Song, các ưu điểm này cũng chính là điều kiện bộc lộ những hạn chế của nó.

Về nội dung học, bên cạnh các nội dung có tính hàn lâm thì các môn học mới, hiện đại, gắn với nhu cầu của CNH-HĐH trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế của nước ta, tỏ ra còn mờ nhạt. Những kiến thức và kỹ năng kinh doanh, về ra quyết định phát triển và ứng dụng công nghệ hiện đại trong kinh tế thị trường và thời đại kinh tế tri thức cần được tăng cường hơn cả về nội dung và thời lượng trong cơ cấu chung. Ví dụ những môn học như phân tích kế toán, tài chính và kinh doanh; marketing; quản lý các ngành chế tạo trong công nghiệp; một số lĩnh vực công nghệ đang nổi lên trên thế giới; quản lý các doanh vụ rủi ro; công nghệ thông tin trong quản lý; những khía cạnh văn hoá trong hội nhập kinh tế quốc tế, trong chuyển giao công nghệ;  nghiên cứu điển hình kinh nghiệm quản lý công nghệ của một số nước nổi trội.

Ngoài ra, một số nhược điểm khác có tính phổ biến của nền giáo dục quốc dân ở bậc cao học  như khả năng tự nghiên cứu của học viên chưa được phát huy, thực hành yếu, trình độ ngoại ngữ còn hạn chế, ít tiếp cận các tài liệu mới trên thế giới... cũng là tình trạng chung, mà có lẽ cần được trao đổi ở những diễn đàn khác. Trên đây chỉ nói đến những hạn chế cụ thể của riêng chương trình đào tạo quản lý khoa học và công nghệ.

4)      Một số việc trước mắt

Trong điều kiện hạn chế về nguồn lực hiện nay ở nước ta, muốn có  thêm cơ hội học tập cho cán bộ, công chức, viên chức, cần tổ chức và phối hợp tốt các loại hình học tập hiện có. Cần có kế hoạch  và cơ chế cụ thể về xây dựng môi trường học tập thường xuyên, học suốt đời cho tất cả những ai quan tâm đến lĩnh vực quản lý công nghệ.

Một là, kết hợp các hình thức học truyền thống, tập trung theo lớp với cách học qua mạng (e-learning), phân tán, tại chỗ để tạo hiệu quả cao nhất cho học tập. Điều đáng lưu ý là những học viên tiềm năng đang công tác tại khắp mọi miền trên lãnh thổ nước ta, nên học từ xa rất có ý nghĩa. Bộ KHCN nên có chủ trương và giao nhiệm vụ cụ thể cho các đơn vị thực hiện ngay loại hình đào tạo qua mạng (e-learning) này về quản lý công nghệ.

 

Hai là, tăng cường liên kết giữa các cơ quan đào tạo trong nước và nhất là với các trung tâm đào tạo quốc tế để tận dụng, thế mạnh của mỗi cơ quan trong việc đào tạo chuyên gia cao cấp có trình độ sau đại học về quản lý công nghệ. Về khung chương trình, cần đa dạng hoá các chương trình cao học, bên cạnh các chương trình hiện có cho các nhà nghiên cứu và quản lý, cần mở thêm các chương trình quản trị kinh doanh KHCN (Techno - MBA) cho cán bộ quản lý và các đối tượng khác, trước hết là giới doanh nghiệp, một cách  chủ động, từ gốc để gắn hơn nữa công tác nghiên cứu khoa học, đổi mới công nghệ với thực tiễn sản xuất kinh doanh.

 

TS. Nguyễn Sĩ Lộc - Hiệu trưởng

Trường Nghiệp vụ quản lý KH&CN

 

Tài liệu dẫn trong bài:

1.       APCTT Consultative Meeting for Evolving a Practical Technology Management (TM) Curriculum and training Programme for Developing Countries in the ESCAP Region, Tehran , Islamic Republic of Iran, 19-22 May 1997.

2.       Collins, G. , Gardner, P. ,Heeaton, A. , Macrosson, K. ,and Tait, J., (1991) “ The Management of Technology: an esential part of training for engineers and scientists”,   Int. J. Technology Management,Vol. 6, Nos 5/6, pp. 568-593.

3.       http://ww.kaistgsm.ac.kr/english/academic.

4.       The MBA Program. “Management of Science, Technology and Innovation”.   School of Business ,  The George Washington University, Washington D.C., 2005 http://www.mba.gwu.edu/ 

5.       http://www.mit.edu/tpp

6.       Lê Văn Chương,  “Nhìn lại 15 năm hoạt động đào tạo sau đại học chuyên ngành chính sách khoa học và công nghệ ở Viện Chiến lược chính sách khoa học và công nghệ” Toạ đàm khoa học Đổi mới phương pháp đào tạo sau đại học chuyên ngành quản lý khoa học và công nghệ, Đại học Khoa học xã hội và nhân văn, Hà nội 25-1-2005.


Ý kiến của bạn Gửi cho bạn bè In bài này Trở lại
Tin theo ngày Xem